Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Kinh Pháp Hoa - Namu Myoho Renge Kyo - Daimoku

Kinh Pháp Hoa - Namu Myoho Renge Kyo - Daimoku




Namu Myoho Renge Kyo - Daimoku | Kinh Pháp Hoa | 南無妙法蓮華経 (commonly known as Nam Myoho Renge Kyo) (English: Devotion to the Mystic Law of the Lotus Sutra or Glory to the Sutra of the Lotus of the Supreme Law) is the central mantra chanted within all forms of Nichiren Buddhism.

The words Myoho Renge Kyo refers to the Japanese title of the Lotus Sutra. The mantra is referred to as daimoku , in honorific form, o-daimoku (お題目) meaning title and was first revealed by the Japanese Buddhist priest Nichiren on the 28th day of the fourth lunar month in present - day city of Kamogawa, Chiba prefecture, Japan.

Namu Myoho Renge Kyo thường được gọi là Nam Myoho Renge Kyo ,sùng kính luật Mystic của Kinh Pháp Hoa hay Glory cho Sutra Lotus của Luật tối cao, là trung tâm thần chú trong tất cả các hình thức của Phật Giáo Nichiren.

Kinh Pháp Hoa là bộ kinh đại thừa gồm bảy quyển tổng cộng là hai mươi tám phẩm, suốt hơn sáu vạn lời, nghĩa lý sâu xa, kinh văn rộng lớn, chứa đựng tâm nguyện và phương tiện huyền diệu ngời sáng của Phật và Bồ Tát.
Những lời Namu Myoho Renge Kyo nói đến Nhật Bản, tiêu đề của Kinh Pháp Hoa . Câu thần chú được gọi là Daimoku.

* Original credit::
- Graham J Riddell Photorgraphy
- Namu Myoho Renge Kyo - Massimo Claus | Myo Edizioni

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

Thần Chú Vãng Sanh - Nhạc Phật Giáo Rất Hay 2017

Thần Chú Vãng Sanh - Nhạc Phật Giáo Rất Hay 2017


Musician: Vo Ta Han
Singer: Cadillac Band

Thần Chú Vãng sanh Tịnh độ thần chú hay còn gọi là chú Đà la ni được trì niệm trong các khóa lễ Tịnh độ, cầu siêu, có công dụng diệt được các trọng tội như: Tứ Trọng, Ngũ Nghịch, Thập Ác, Hủy Bán Chánh Pháp…

Thần Chú Vãng Sanh có tầm quan trọng trong Phật giáo, nên người tu pháp môn Tịnh độ luôn trì niệm nhằm thú hướng Lạc bang.

Lyric:
Nam-mô a di đa bà dạ
Ða tha dà đa dạ
Ða địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ
A di rị đa tất đam bà tỳ
A di rị đa tì ca lan đế
A di rị đa, tì ca lan đa
Dà di nị dà dà na
Chỉ đa ca lệ ta bà ha.


Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum - Thần Chú Liên Hoa Sanh

Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum - Thần Chú Liên Hoa Sanh




OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM

Trong tiếng Phạn:
OM AH HUM VAJRA-GURU-PADMA-SIDDHI HUM
Trong tiếng Phạn được Tây Tạng hóa:
OM AH HUNG BENZAR GURU PEMA SIDDHI HUNG

Mật chú Kim Cang Thượng Sư là của Guru Rinpoche, còn được gọi là Padmasambhava (Liên Hoa Sanh).

>>>Xem thêm: Thần Chú Phật Giáo

Câu mật chú này được dấu kỹ trong thời Liên Hoa Sanh ở Tây Tạng. Đến thế kỷ 14, được Karma Lingpa khám phá ra và chép lại trên vàng lá và được gọi là “giải thích từng lời của mật chú Kim Cang Thượng Sư.” Đây là cuộc đối thoại giữa Yeshe và Liên Hoa Sanh.

-Bạch ngài Liên Hoa Sanh, ngài rất từ bi đối với chúng con, những người Tây Tạng, giáo pháp của ngài đã đem lại lợi lộc cho chúng con bây giờ và cho những thế hệ ngày mai. Lòng từ của ngài quá lớn, chúng con chưa bao giờ được cảm nhận ân sủng như thế. Mặc dầu bây giờ con chỉ là một người tầm thường nhưng con không chút nghi ngờ nào rằng mình sẽ chắc chắn được giác ngộ. Trong tương lai chúng sanh sẽ bị nhiều chuyện làm bận tâm trí họ. Tâm tính họ sẽ trở nên thô bạo, khó dạy. Họ sẽ có những quan niệm sai lầm về chánh pháp, họ sẽ vất bỏ mật chú tối thượng này. Lúc ấy chúng sanh sẽ chịu đau khổ vì bệnh hoạn, đói kém, chiến tranh. Vì các tai họa này, chúng sanh ở các nước Trung Hoa, Mông Cổ, Tây Tạng, sẽ chứng nghiệm sự rối loạn như một tổ kiến bị phá hủy. Lúc đó dân tộc Tây Tạng sẽ chịu khổ nạn rất lớn. Mặc dầu ngài đã chỉ dẫn những pháp môn, nhưng các chúng sanh trong tương lai không có thời gian để tu tập. Và dù họ có ý muốn tu tập thì cũng có rất nhiều trở ngại. Trong trường hợp ấy những người chỉ cậy nhờ vào câu mật chú Kim Cang Thượng Sư để tu tập. Con xin ngài chỉ rõ cho họ những lợi lộc khi tập câu mật chú này.

- Này đạo hữu, những gì bà nói đều rất đúng. Trong tương lai, chúng sanh sẽ gập lúc như thế. Và lợi ích của mật chú Kim Cang Thượng Sư sẽ được chứng nghiệm. Bởi vì những giáo lý và chỉ dẫn của tôi thì vô tận. Tôi đã dấu phần lớn giáo lý dưới các hang động, dưới suối nước, và trên trời. Trong thời dữ, ngay cả những người có nghiệp tốt cũng khó mà gập những giáo lý này. Rất khó để có đủ nhân duyên để các giáo lý này được phơi bầy, bởi vì cộng nghiệp của chúng sanh đã quá suy đồi.
Tuy nhiên vào lúc đó, nếu đọc được mật chú Kim Cang Thượng Sư 100 lần, 1000 lần, 10000 lần, 1 triệu, 10 triệu, 100 triệu... ở nơi thánh địa, tu viện, ven sông bởi các tu sĩ, những cư sĩ đầy đức tin và tạo nên lòng từ bi trong quảng đại quần chúng thì những lực lượng tiêu cực: bệnh hoạn, đói khát, chiến tranh sẽ được chuyển hóa. Mưa sẽ rơi xuống những nơi hạn hán, mùa màng sẽ tốt tươi, dân chúng sẽ sung túc.
Trong đời này, đời tương lai và trong thân trung ấm những người nào tập câu mật chú này sẽ lại gập tôi. Những người kha khá sẽ gập tôi nhiều lần trong giấc mộng. Những người xuất sắc sẽ gập tôi trong trạng thái tỉnh thức. Họ sẽ được đưa về quốc độ của tôi, chắc chắn là vậy.

Nếu người nào đọc câu chú này 100 lần không gián đoạn trong một ngày thì sẽ được mọi người hoan hỉ, và không lo gì về vấn đề cơm áo.
Nếu người nào đọc câu chú này 1000 lần đến 10 ngàn lần trong một ngày sẽ có ảnh hưởng lớn đối với mọi người xung quanh và có những ơn phước về tinh thần.
Nếu người nào đều đặn đọc 1 triệu lần/ngày sẽ ích lợi cho rất đông chúng sanh.
Nếu người nào đều đặn đọc 3-4 triệu lần/ngày sẽ không bao giờ tách rời khỏi chư Phật ba đời vì tôi và quỷ thần sẽ tới ca ngợi.

Trong trường hợp xuất sắc người tập sẽ đạt tới mức độ cao nhất trong cuộc đời này là thân cầu vồng. Ở mức độ thấp hơn trong giai đoạn chết những ánh sáng mẹ và con sẽ gập gỡ nhau. Ở mức độ thấp nhất người ấy sẽ thấy mặt tôi trong giai đoạn thân trung ấm và được đưa về quốc độ của tôi.

- Bạch ngài, xin cảm ơn ngài đã cho biết những ích lợi vô cùng của mật chú này. Vì lợi ích của những chúng sanh tương lai xin ngài hãy nói ngắn gọn từng lời của câu chú này.

- Này đạo hữu, câu mật chú này là sinh lực cốt yếu của chư thần của bốn hạng tantra, 9 yana và 8 vạn 4 ngàn pháp môn. Là cốt tủy của chư Phật trong ba thời, của những thượng sư, chư thần, những thần hộ pháp, tất cả đều nằm trong câu chú này. Đạo hữu có thể hỏi tại sao lại được như thế? Hãy nghe cho kỹ và ghi nhớ trong đầu, hãy đọc đi đọc lại nhiều lần, hãy ghi nó ra và dây lại cho các chúng sanh trong tương lai.

Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Nhạc Niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát - Nhạc Phật Giáo Hay 2017

Nhạc Niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát - Nhạc Phật Giáo Hay 2017

Quán Thế Âm Bồ Tát (Tiếng Phạn: अवलोकितेश्वर nghĩa là "Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian") là một vị Bồ tát hiện thân lòng từ bi của tất cả chư Phật. Được miêu tả trong nhiều nền văn hóa khác nhau, cả thân nam lẫn nữ giới, Quan Thế Âm là một trong những vị Bồ tát được tôn kính thờ phụng rộng rãi nhất trong Phật giáo Đại thừa, cũng như không chính thức trong Phật giáo Nguyên thủy.
Tên nguyên bản tiếng Phạn của vị Bồ tát này là Avalokitesvara. Tên tiếng Hán Quán Thế Âm Bồ Tát (觀世音菩薩) được phiên dịch từ tên tiếng Phạn này, "Avalokiteśvara Bodhisattva". Bồ tát này thường được mô tả dưới nhiều dạng thân nam hay nữ, và cũng có thể được biết đến với tên gọi đơn giản là Quan Âm.
Namo Avalokiteshvara Bodhisattva là câu niệm hồng danh của ngài Quán Thế Âm Bồ tát.
Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là quán chiếu, suy xét, lắng nghe âm thanh của thế gian. Theo Phẩm Phổ môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, sở dĩ ngài Uang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện từ bi cứu khu nạn, mỗi khi chúng sanh bị khổn ách, nguy cấp liền nhất tâm niệm danh hiệu của bồ tát, ngài liền quán xét âm thanh đó, lập tức cứu họ thoát khỏi tai ách.
Trong Bát Nhã Tâm Kimnh, vị Bồ tát này mang tên là Quán Tự Tại dựa trên pháp môn tu tập của ngài. Khi myuquán chiếu thâm sâu vào chính mình, ngài nhận thấy năm uẩn không có tự tính và đều là giả tạm, ngộ ra được điều đó, ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn.
Bồ Tát Quán Thế Âm còn được biết đến với tên gọi Bồ tát Quán ÂmBồ tát Từ Hàng hay Từ Hàng Đại sĩ.
Tại Trung Hoa và Việt Nam còn gọi là Quan Âm.

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Om Mani Padme Hum - buddhist Mantra of tibetan - Thần Chú Tây Tạng Rất Hay.

Om Mani Padme Hum - Buddhist Mantra of Tibetan



Thần Chú Om Mani Padme Hūm (chữ Devanāgarī: ॐ मणि पद्मे हूं, tiếng Tây Tạng: ཨོཾ་མ་ནི་པ་དྨེ་ཧཱུྃ་) là một câu Chân ngôn tiếng Phạn, được xem là chân ngôn cầu Quán Thế Âm Bồ Tát và là chân ngôn quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là "Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn" tức là "Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ".

mệnh danh là "Lục Đại Tự Minh Chân Ngôn" tức là "Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ".
Có thể dịch câu này là Om, ngọc quý trong hoa sen, Hūm. Theo âm Hán-Việt, câu này được đọc là Úm ma ni bát ni hồng (zh. 唵嘛呢叭𡁠吽, chữ 𡁠 cũng được viết dị dạng là 咪), hoặc Án ma ni bát mê hồng.
Thông thường người ta không giảng nghĩa Chân ngôn, nhưng ở đây cần nói thêm là: "ngọc quý" biểu hiện cho Bồ-đề tâm(bodhicitta), "hoa sen" chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên Chân ngôn có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Đối với Phật giáo Tây tạng thì Oṃ Maṇi Padme Huṃ ཨོཾ་མ་ནི་པ་དྨེ་ཧཱུྃ་ chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới (Hữu luân, Tam giới).

Nguồn: hoasenphat.com